https://sjsh.hpu2.edu.vn/index.php/journal/issue/feed Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP Hà Nội 2: Chuyên san Khoa học xã hội và Nhân văn 2026-06-03T14:11:29+07:00 Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP Hà Nội 2: Chuyên san Khoa học xã hội và Nhân văn sjsh@hpu2.edu.vn Open Journal Systems <p>Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP Hà Nội 2: Chuyên san Khoa học xã hội và Nhân văn</p> <p>Đơn vị quản lý: Phòng Khoa học Công nghệ và Hợp tác Quốc tế, Trường ĐHSP Hà Nội 2, số 32 đường Nguyễn Văn Linh, phường Xuân Hòa, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.</p> <p>Email: <a href="mailto:tapchikhoahoc@hpu2.edu.vn">sjsh@hpu2.edu.vn</a></p> https://sjsh.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/678 Đặc điểm thi pháp thơ viết cho thiếu nhi của Xuân Quỳnh qua thi tuyển Con yêu mẹ 2026-06-02T14:19:06+07:00 La Nguyệt Anh languyetanh@hpu2.edu.vn <p>Con yêu mẹ là tập thơ tuyển những sáng tác của Xuân Quỳnh viết cho thiếu nhi. Tập thơ gồm 18 bài, ghi dấu ấn thi pháp riêng, độc đáo của Xuân Quỳnh khi viết cho trẻ thơ. Tình yêu thương mà sâu sắc hơn là tình mẫu tử, sự thấu hiểu thế giới trẻ con đã đưa dẫn những vần thơ giản dị, đằm thắm của Xuân Quỳnh đến với tuổi thơ. Cái tôi trữ tình nhập vai, giọng thơ hồn nhiên, trong trẻo gần với tư duy ngộ nghĩnh trẻ thơ tạo nên sức hấp dẫn đối với các bạn nhỏ.</p> 2026-06-03T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 https://sjsh.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/679 Truyện Kiều (Nguyễn Du) nhìn từ lý thuyết tình huống giới hạn của Karl Jaspers 2026-06-02T14:22:18+07:00 Trương Quốc Bảo quocbao122005@gmail.com Nguyễn Thị Ngọc Bích quocbao122005@gmail.com <p>Bài viết tiếp cận Truyện Kiều (Nguyễn Du) dưới lý thuyết “tình huống giới hạn” của Karl Jaspers thông qua hai phạm trù trung tâm: vô hạn và giới hạn. Thông qua các tình huống giới hạn cụ thể mà Karl Jaspers đã đề ra: cái chết, tội lỗi, ngẫu nhiên đồng thời dựa trên các nguyên tắc đạo đức phương Đông; bài viết sẽ luận giải rằng hành trình của nhân vật Thúy Kiều như là chiến đấu với những “tình huống giới hạn”, và chính những giới hạn mà nàng đối mặt sẽ khởi lộ những vô hạn mà nàng khát vọng vươn đến. Từ cách tiếp cận này, Truyện Kiều (Nguyễn Du) không chỉ được đọc như bi kịch của con người mà mở ra một đối thoại, rằng con người luôn đứng trong những tình huống lưỡng nan và bị kéo căng bởi các trường lực, nhưng không ngừng vươn lên cái vô hạn dù nó chỉ hiện diện trong khoảnh khắc cực hạn. Nhân vật Thúy Kiều, vì thế, không còn là một điển mẫu của bi kịch cá nhân mà là một chủ thể liên tục trải nghiệm, thể nghiệm và tạo nên ý nghĩa trong sự khép mình ở giới hạn và vô hạn của hiện hữu. Bài viết từ đó góp phần đối thoại với những cách diễn giải Truyện Kiều trước đây, cũng như mở ra những đối thoại tư tưởng Đông – Tây, một hướng tiếp cận tiềm năng cho văn học trung đại Việt Nam.</p> 2026-06-03T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 https://sjsh.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/680 Thế giới hiện sinh như những giới hạn của tồn tại – nhìn từ trường ca Ngụ ngôn của người đãng trí của Ngô Kha 2026-06-02T14:34:16+07:00 Nguyễn Thị Ngọc Bích bichnguyenthingoc13@gmail.com Phạm Ngọc Lan bichnguyenthingoc13@gmail.com Trương Quốc Bảo bichnguyenthingoc13@gmail.com Ngô Thảo Tiên bichnguyenthingoc13@gmail.com <p>Bài viết tiếp cận và diễn giải trường ca Ngụ ngôn của người đãng trí của Ngô Kha dưới lăng kính của triết học hiện sinh, từ đó phát hiện các dạng thái của thế giới trong tác phẩm như những giới hạn tồn tại đối với chủ thể. Với ba kiểu thế giới: phi lý, cái chết và ngục tù; nó như đặt chủ thể vào những giới hạn buộc phải đối diện và chủ thể phải giằng co giữa Dasein - Existenz với nỗ lực thiết định ý nghĩa trong thế giới đổ vỡ. Các thế giới trên không đơn thuần chỉ là điều kiện thời gian – vật lý, mà còn biểu thị cho những trạng thái ý thức – vô thức khi chủ thể đối diện với những thực tại đó đang tiến gần và tiêu hủy hiện hữu. Dựa trên cơ sở đó, bài viết cho thấy hiện hữu người là nghịch lý trong mọi lựa chọn, dù dấn thân hay buông bỏ, hành động hay trì hoãn, phản kháng hay chấp nhận thì con người luôn phải đối mặt với sự bất toàn. Từ đó, Ngụ ngôn của người đãng trí của Ngô Kha không phải chỉ là bản ngụ ngôn của kẻ đãng trí mà chính là bản hùng ca của chủ thể hiện sinh vượt qua những giới hạn và đang rực cháy trong những biên tế tận cùng của hiện hữu.</p> 2026-06-03T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 https://sjsh.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/681 Hình tượng người lính trong nhật kí chiến tranh ở Việt Nam 1945-1975 2026-06-02T14:45:50+07:00 Hoàng Thị Duyên hoangthiduyen@hpu2.edu.vn <p>Bài viết tiếp cận hình tượng người lính trong nhật kí chiến tranh Việt Nam giai đoạn 1945–1975 như một cấu trúc thẩm mỹ – ý thức đặc thù, nơi giao thoa giữa trải nghiệm cá nhân và diễn ngôn lịch sử. Trên cơ sở khảo sát các văn bản tiêu biểu, bài viết nhận định nhật kí chiến tranh không chỉ là hình thức ghi chép hiện thực mà còn là không gian tự ý thức, nơi con người đối diện, lí giải và kiến tạo ý nghĩa tồn tại của mình trong điều kiện gian khổ. Trong chỉnh thể đó, hình tượng người lính hiện lên với tính đa tầng: vừa là chủ thể mang lí tưởng cách mạng cao đẹp vừa là con người trực diện với gian khổ, cái chết và sự mất mát, hi sinh; đồng thời cũng là một cá thể giàu đời sống nội tâm, yêu thương mãnh liệt, mơ ước khát vọng cháy bỏng và không ngừng tự phản tư. Bài viết khẳng định vai trò bổ khuyết quan trọng của nhật kí trong việc mở rộng nhận thức về chiến tranh theo hướng đa chiều, góp phần tái định hình hình tượng người lính như một chỉnh thể vừa mang tầm vóc sử thi, vừa thấm đẫm chiều sâu nhân văn - qua đó phản ánh bền vững hệ giá trị tinh thần của con người Việt Nam trong chiến tranh vệ quốc.</p> 2026-06-03T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 https://sjsh.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/682 Thiên nhiên và con người trong tập truyện ngắn Hương quê của nhà văn Sơn Nam 2026-06-02T14:48:42+07:00 Dương Thị Thuý Hằng duongthithuyhang@hpu2.edu.vn Nguyễn Phương Hà nguyenphuongha@hpu2.edu.vn <p>Sơn Nam là một nhà văn tiêu biểu của văn học Nam Bộ, tác giả của nhiều sáng tác gắn bó sâu sắc với thiên nhiên, con người và văn hóa vùng đất này. Điều này được thể hiện rõ nét trong tập truyện ngắn Hương quê. Tác phẩm phản ánh rõ ảnh hưởng từ cuộc đời, trải nghiệm và vốn hiểu biết phong phú của ông về đời sống Nam Bộ. Trong tập truyện ngắn Hương quê, thiên nhiên Nam Bộ hiện lên vừa hoang sơ, dữ dội với nhiều hiểm nguy trong buổi đầu khai hoang, vừa trù phú, gần gũi và giàu nguồn lợi. Trong bối cảnh đó, con người Nam Bộ hiện lên với sự gan dạ, bền bỉ, biết thích nghi và tận dụng thiên nhiên để sinh tồn. Đồng thời, họ còn mang những phẩm chất đẹp như yêu quê hương, sống nghĩa khí, hào hiệp và giàu tình người. Qua tập truyện ngắn này, dấu ấn văn hoá Nam Bộ được khắc hoạ rõ nét, sinh động.</p> 2026-06-03T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 https://sjsh.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/683 Nghiên cứu Chuyện người con gái Nam Xương (Nguyễn Dữ) và Cái bóng trên tường (Nguyễn Đình Thi) từ lí thuyết liên văn bản 2026-06-02T14:52:29+07:00 Nguyễn Thị Việt Hằng nguyenthiviethang@hpu2.edu.vn Vũ Thị Thủy nguyenthiviethang@hpu2.edu.vn Nguyễn Trung Hiếu nguyenthiviethang@hpu2.edu.vn Lục Thị Thanh nguyenthiviethang@hpu2.edu.vn Phan Thị Thu Huệ nguyenthiviethang@hpu2.edu.vn Đàm Mai Chi nguyenthiviethang@hpu2.edu.vn <p>Chuyện người con gái Nam Xương (Nam Xương nữ tử truyện) của Nguyễn Dữ và kịch bản Cái bóng trên tường của Nguyễn Đình Thi cùng viết về câu chuyện đời bi kịch của nàng Vũ Thị Thiết vốn được lưu truyền trong văn hóa Việt Nam, cho thấy rõ rệt đây là một trường hợp liên văn bản tiêu biểu. Trên cơ sở đó, bài viết nghiên cứu hai tác phẩm từ lí thuyết liên văn bản, chỉ rõ sự “chuyển vị” (transposition), đối thoại, cải tác,… của hai văn bản trong một diễn trình liên văn bản có liên quan mật thiết với câu chuyện dân gian về người phụ nữ bất hạnh ở Nam Xương, đi sâu phân tích các phương diện như: đối thoại với bản kể dân gian về nội dung cốt truyện, đối thoại giữa hai văn bản về kết cấu, biểu tượng chiếc bóng và nhân vật.</p> 2026-06-03T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 https://sjsh.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/684 Biểu tượng kinh thánh trong tiểu thuyết Lũ người quỷ ám (F.M.Dostoevski) 2026-06-02T15:04:38+07:00 Lê Thị Thu Hiền lethithuhienkhoavan@hpu2.edu.vn Nguyễn Hữu Tân lethithuhienkhoavan@hpu2.edu.vn <p><em>Lũ người quỷ ám</em><em> là một trong những kiệt tác của F.M.Dostoevski. Xuất phát từ niềm tin Kitô giáo sâu sắc và quan niệm coi Chúa Kitô là hiện thân của cái đẹp tuyệt đối, Dostoevski đã xây dựng tác phẩm như một diễn ngôn mang chiều kích tôn giáo – triết học. Tiểu thuyết Lũ người quỷ ám phản ánh hiện thực xã hội Nga thế kỷ XIX đang chìm trong khủng hoảng bởi những tư tưởng cực đoan qua một số biểu tượng Kinh Thánh đa dạng. Mỗi biểu tượng vừa gắn với bối cảnh văn hóa – lịch sử cụ thể, vừa mở ra những tầng nghĩa phổ quát về niềm tin, tội lỗi, sự cứu rỗi và khát vọng tái sinh tinh thần của nhân loại. Nhờ vậy, Lũ người quỷ ám vượt khỏi khuôn khổ một tiểu thuyết luận đề để trở thành bản cáo trạng xã hội mang chiều sâu tôn giáo – triết học sâu sắc.</em></p> 2026-06-03T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 https://sjsh.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/685 Hành vi ngôn ngữ trách trong ca dao Việt Nam 2026-06-02T15:07:49+07:00 Đỗ Thị Thu Hương dothithuhuong@hpu2.edu.vn Nguyễn Thu Hương dothithuhuong@hpu2.edu.vn Nguyễn Thị Vân dothithuhuong@hpu2.edu.vn <p>Trong ca dao Việt Nam, hành vi ngôn ngữ trách được sử dụng khá phổ biến nhưng chưa được nghiên cứu một cách hệ thống. Bài viết này nhằm mục đích nhận diện, phân loại, phân tích một số hành vi trách trực tiếp, trách gián tiếp trong ca dao Việt Nam. Ngữ liệu thu thập được gồm 295 bài ca dao có xuất hiện hành vi ngôn ngữ trách. Bằng các phương pháp miêu tả, phương pháp phân tích kết hợp với thủ pháp thống kê phân loại, bài viết đã tiến hành phân loại các hành vi ngôn ngữ trong ca dao Việt Nam thành hai nhóm: trách trực tiếp và trách gián tiếp, đồng thời phân tích chi tiết các đặc điểm của hành vi ngôn ngữ trách như chủ đề trách, biểu thức ngữ vi của hành động trách, các thành tố trong biểu thức ngữ vi, lực ngôn trung hàm ẩn trong hành vi trách gián tiếp, hiệu quả nghệ thuật của hành vi ngôn ngữ trách trực tiếp và trách gián tiếp trong ca dao Việt Nam.</p> 2026-06-03T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 https://sjsh.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/686 Đặc sắc nội dung và nghệ thuật trong Chuyện hoa, chuyện quả của Phạm Hổ 2026-06-02T15:13:47+07:00 Nguyễn Thị Hoàng Hương nguyenthihoanghuong@hdu.edu.vn Nguyễn Thị Mai Hương nguyenthihoanghuong@hdu.edu.vn <p>Là một nhà văn có bề dày về kinh nghiệm sáng tác, và đặc biệt với tấm lòng yêu mến trẻ thơ, Phạm Hổ đã đem đến cho bạn đọc nhỏ tuổi những tác phẩm giàu giá trị về phương diện nội dung và nghệ thuật. Những sáng tác của ông đánh dấu son quan trọng trong nền văn học thiếu nhi nước nhà. Trong đó, Chuyện hoa, chuyện quả là tác phẩm viết theo lối cổ tích hiện đại được Phạm Hổ dành nhiều thời gian và tâm sức sáng tác. Những câu chuyện hấp dẫn trong tập truyện không chỉ cung cấp cho các em những hiểu biết về sự phong phú, kì diệu của thiên nhiên mà còn giúp các em hiểu thêm về những số phận, những cảnh đời. Với gần 50 mẩu chuyện xinh xắn về các loại hoa, loại quả, Chuyện hoa, chuyện quả đã góp một dấu ấn riêng, đặc sắc trong sự nghiệp sáng tác của Phạm Hổ.</p> 2026-06-03T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 https://sjsh.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/687 Vấn đề tội ác trong Thú tội của Minato Kanae 2026-06-02T15:16:34+07:00 Bùi Thuỳ Linh buithuylinh@hpu2.edu.vn Nguyễn Thị Mai Liên buithuylinh@hpu2.edu.vn Phùng Mỹ Lệ buithuylinh@hpu2.edu.vn <p>Nghiên cứu này tìm hiểu vấn đề tội ác trong Thú tội của Minato Kanae&nbsp; từ hướng tiếp cận chủ đạo là xã hội học (cụ thể là&nbsp; mô hình lý thuyết về tam giác bạo lực của nhà xã hội học người Na Uy Johan Galtung) kết hợp với tâm lí học. Bằng việc phân tích về tội ác hữu hình và vô hình trong tác phẩm, nhiều khía cạnh khác nhau của tội ác, kẻ phạm tội, nạn nhân và những góc khuất phía sau bản cáo trạng đã được phơi bày. Các kết luận được đưa ra vừa khắc hoạ bức tranh phức tạp về tâm lý con người, xã hội trong thời kì hiện đại nói chung và trong vấn đề tội phạm nói riêng đồng thời đặt ra câu hỏi về vai trò, trách nhiệm của xã hội, gia đình và nhà trường trong việc định hướng và giáo dục thế hệ trẻ hướng đến những giá trị Chân - Thiện - Mỹ, sống nhẫn nại, bao dung và trách nhiệm hơn.</p> 2026-06-03T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 https://sjsh.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/688 Điểm nhìn trẻ thơ trong thơ Huỳnh Mai Liên (qua tập thơ Bốn mùa cờ bay) 2026-06-02T15:28:53+07:00 Lê Trà My tramyle2311@gmail.com Trần Thị Phương Ni tramyle2311@gmail.com <p>Tập thơ Bốn mùa cờ bay của Huỳnh Mai Liên vừa ra mắt tháng 8/ 2025. Cùng với các tập thơ trước, Bốn mùa cờ bay lựa chọn điểm nhìn từ ý thức của trẻ thơ. Điểm nhìn đặc biệt này đã trở thành một mạch nối xuyên suốt, thống nhất trong phong cách thơ của Huỳnh Mai Liên. Nhà thơ đã tái hiện không gian biển đảo, tình yêu quê hương bằng những rung động chân thành, sáng trong thông qua việc hoá thân vào em bé nơi “đầu sóng ngọn gió”. Xác lập vai trẻ thơ trong sự biểu hiện của nhân vật trữ tình, nhà thơ đã cấu trúc diễn ngôn yêu nước theo hướng mềm mại, giàu tính nhân văn bằng những vần thơ trong trẻo, hồn nhiên, đáng yêu; hình ảnh, ngôn ngữ, nhịp điệu thơ mang đậm phong vị trẻ thơ. Chủ đề biển đảo, tình yêu nước trở nên gần gũi, thân quen, dễ tiếp cận đối với bạn đọc nhỏ tuổi. Tập thơ vừa mang lại những trải nghiệm nghệ thuật giàu màu sắc thẩm mĩ vừa góp phần khơi gợi, bồi dưỡng ý thức công dân cho thiếu nhi.</p> 2026-06-03T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 https://sjsh.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/689 Tính chất thị thành trong thơ Trần Tế Xương 2026-06-02T15:45:30+07:00 Mai Hạnh Ngân hanhnganmai@gmail.com Nguyễn Thị Thu Hương hanhnganmai@gmail.com <p>Bài viết nghiên cứu tính chất thị thành trong thơ Trần Tế Xương, coi đó như một biểu hiện tiêu biểu của sự biến đổi xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX. Từ không gian phố phường, cảnh sinh hoạt đô thị đến sự xuất hiện của những tầng lớp và thói quen mới, thơ Tú Xương đã phản ánh rõ nét sự giao thoa giữa truyền thống và hiện đại. Qua việc phân tích các phương diện này, bài viết khẳng định vai trò của Tú Xương như một nhà thơ bản lề, người đã ghi dấu ấn quan trọng trong tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc.</p> 2026-06-03T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 https://sjsh.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/690 Xây dựng hệ thống bài tập mở rộng vốn từ cho học sinh lớp 3 dựa trên lí thuyết đa trí tuệ 2026-06-02T15:48:52+07:00 Đỗ Lam Ngọc dolamngoc@hpu2.edu.vn <p>Trong chương trình môn Tiếng Việt ở Tiểu học, Luyện từ và câu giữ vai trò quan trọng trong việc phát triển ngôn ngữ của học sinh. Trong đó, dạy học mở rộng vốn từ là một nội dung trọng tâm ở lớp 3. Theo đó, việc dạy và học mở rộng vốn từ chủ yếu gắn liền với các bài tập trong sách giáo khoa, sách bài tập thì việc triển khai, xây dựng các biện pháp, bài tập dựa trên thuyết đa trí tuệ là hướng đi khoa học giúp học sinh có thêm vốn từ vựng phong phú, tăng cường năng lực sử dụng từ ngữ một cách chính xác, linh hoạt. Với mục tiêu dạy học phát triển phẩm chất và năng lực thì việc áp dụng thuyết đa trí tuệ khi xây dựng hệ thống bài tập đang tạo ra những cơ hội mới trong việc khai thác trí thông minh ngôn ngữ của học sinh. Từ thực tiễn đó, bài viết đề xuất hệ thống bài học dạy học mở rộng vốn từ thông qua lí thuyết đa trí tuệ cho học sinh lớp 3 theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực.</p> 2026-06-03T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 https://sjsh.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/691 Hình tượng Trần Thủ Độ trong tiểu thuyết cùng tên của Trần Thanh Cảnh qua điểm nhìn trần thuật 2026-06-02T15:51:06+07:00 Trần Thị Nhật ttnhat@sgu.edu.vn <p class="tukhoa"><span lang="PT-BR">Thái sư Trần Thủ Độ, người đóng vai trò quan trọng trong giai đoạn chuyển giao Lý – Trần, nhưng chính sử có những đánh giá phê phán về ông. Để góp phần giải mã nhân vật lịch sử nhiều tranh cãi, nhà văn Trần Thanh Cảnh đã giành cho ông cả một thiên tiểu thuyết. Từ cách tiếp cận điểm nhìn trần thuật, bài viết hướng đến việc tìm hiểu quan điểm nghệ thuật của nhà văn về nhân vật lịch sử đặc biệt này.</span></p> 2026-06-03T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 https://sjsh.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/692 Những đa đoan thế sự trong thơ Nguyễn Bình Phương 2026-06-02T15:54:59+07:00 Nguyễn Thị Nhị nguyennhik37bvan@gmail.com <p>Nguyễn Bình Phương là một trong những gương mặt tiêu biểu của văn học Việt Nam đương đại. Thơ ông mang vẻ đẹp bí ẩn, khó nắm bắt nhưng cũng ẩn chứa chiều sâu nhân sinh. Một trong những đặc điểm nổi bật trong sáng tác của ông chính là cái nhìn về “đa đoan thế sự”. Cảm hứng thế sự trong thơ ông không chỉ dừng lại ở việc phản ánh thực tại mà còn vươn tới một bức tranh rộng lớn về nhân tình thế thái với nhiều mảng sáng tối đan xen. Tiếp cận thơ Nguyễn Bình Phương, độc giả không chỉ đối diện với những nghịch lý, bất ổn của thời đại mà còn lắng nghe được tiếng vọng sâu thẳm của thân phận con người trước dòng chảy lịch sử. Chính cái nhìn đa diện này đã tạo nên một dấu ấn thế sự đa đoan trong thơ ông. Một thế giới vừa thực vừa hư, vừa khơi gợi những suy tư sâu sắc trong lòng người đọc.</p> 2026-06-03T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 https://sjsh.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/693 Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Đức Hạnh qua tập “Khát cháy” 2026-06-02T16:21:00+07:00 Vũ Nguyệt Khánh Phượng vunguyetkhanhphuongthpt@gmail.com <p>Bài viết này đã tập trung nghiên cứu đặc điểm của cái tôi trữ tình trong tập thơ Khát cháy của nhà thơ Nguyễn Đức Hạnh – một tác giả có phong cách viết riêng độc đáo. Nghiên cứu thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Đức Hạnh nói chung, cái tôi trữ tình biểu hiện ở tập thơ “Khát cháy” nói riêng là một vấn đề có ý nghĩa lí luận và thực tiễn. Một mặt, nó chỉ ra nét riêng độc đáo và sự chuyển biến trong phong cách sáng tác của Nguyễn Đức Hạnh; một mặt khác góp phần khẳng định vị thế của tác giả trong thơ ca đương đại Việt Nam. Nghiên cứu các sáng tác của Nguyễn Đức Hạnh trong tập thơ này, chúng tôi nhận thấy cái tôi trữ tình có những đặc điểm nổi bật sau: cái tôi yêu thương gắn bó; cái tôi yêu tha thiết quê hương đất nước; cái tôi đồng cảm, thấu hiểu, sẻ chia; cái tôi dạt dào, say đắm trong tình yêu.</p> 2026-06-03T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 https://sjsh.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/694 Hình tượng người kể chuyện trong thuyền của Nguyễn Đức Tùng 2026-06-02T16:24:06+07:00 Mai Thị Hồng Tuyết maithihongtuyet@hpu2.edu.vn <p>Tiểu thuyết Thuyền của Nguyễn Đức Tùng là một tác phẩm văn học di dân gây được nhiều sự chú ý trong thời gian gần đây. Đây là một cuốn tiểu thuyết rất giàu chất thơ với hình tượng người kể chuyện mang nhiều đặc điểm gần gũi với kiểu nhân vật trữ tình mà ta thường thấy xuất hiện trong thơ. Bởi những sự kiện đời sống dường như chỉ là cái cớ để người kể chuyện thể hiện những cảm xúc, nghĩ suy. Trong câu chuyện, người kể là một thuyền nhân trên hành trình số phận khắc nghiệt và đắng cay, chứng kiến tội ác của cướp biển, chứng kiến cơn bão biển khủng khiếp và những cái chết của đồng bào mình…, từng tuyệt vọng rồi lại hi vọng. Trên hành trình ấy, nhân vật "tôi" đã suy nghiệm về tự do, tình yêu, hạnh phúc, về quê hương, về sự sống và cái chết... Cuối cùng, anh đã có được đáp án riêng của mình, nhất là định nghĩa về "quê hương" từ góc nhìn của một di dân. Sâu trong tâm hồn nhân vật người kể chuyện là tình yêu với nghệ thuật, tình yêu với đời sống và hơn hết là tình yêu với quê hương, đất nước mình.</p> 2026-06-03T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 https://sjsh.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/695 Sự biểu đạt của không gian và động vật: So sánh sự tương tác giữa con người và phi nhân trong Con bò cái (1969) của Dariush Mehrjui và Cún (1990) của Bùi Ngọc Tấn 2026-06-02T16:25:47+07:00 Phan La Phương Uyên phuonguyen.vanhoc@gmail.com Kiều Minh Hùng phuonguyen.vanhoc@gmail.com <p>Trong nghiên cứu, phê bình văn học và điện ảnh đương đại, sự chuyển dịch “bước ngoặt phi nhân” (the nonhuman turn) đã mở ra những hướng đi mới khi khai thác bối cảnh áp bức chính trị cùng sự đứt gãy bản thể như một hệ quả tất yếu của diễn ngôn hiện đại hoá. Bài báo tập trung khám phá mạng lưới bện chặt (entanglements) giữa những chủ thể phi nhân được biểu đạt bằng phương thức tự sự không gian và tự sự động vật, qua việc khảo sát hai trường hợp tiêu biểu là truyện ngắn Cún của Bùi Ngọc Tấn và phim điện ảnh Con bò cái của Dariush Mehrjui. Vận dụng khung lý thuyết về phê bình không gian, tự sự động vật, kết hợp với cách đọc thông diễn học, nghiên cứu này đi vào phân tích các cấu trúc không gian, môi trường được xây dựng không chỉ là những phông nền tĩnh tại mà là “sản phẩm của các mối tương quan” giữa con người và động vật, đồng thời xem xét sự hiện hữu của động vật như là những chủ thể đồng hành (companion subjects), can dự trực tiếp vào quá trình kiến tạo bản sắc xã hội chứ không chỉ giữ vai trò biểu trưng hay là công cụ phản chiếu thân phận con người. Kết quả cho thấy, dù được sáng tác ở hai loại hình và bối cảnh cách biệt, sự hiện diện của động vật đã phá vỡ tính chất tĩnh tại, đơn nghĩa của không gian. Thông qua những tương tác bện chặt giữa con người và phi nhân, nghiên cứu làm nổi bật những hình thức phản kháng thầm lặng của động vật trước các cơ chế quyền lực kiểm soát và áp bức sinh mệnh. Từ đó, nghiên cứu góp phần khẳng định những tiềm năng nổi bật của phê bình không gian và tự sự động vật trong việc mở rộng khả năng diễn giải văn học và điện ảnh, hướng đến thực tiễn hoá viễn cảnh mà các thực thể đa loài cùng chung sống, cùng thương lượng và đồng kiến tạo nên ý nghĩa chính trị - văn hoá trong đời sống xã hội đương đại.</p> 2026-06-03T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 https://sjsh.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/696 Bảo tồn và phát huy văn hóa dân gian Việt Nam trong kỷ nguyên số: cơ hội và thách thức từ các nền tảng trực tuyến 2026-06-02T16:29:46+07:00 Nguyễn Thị Hải Anh nguyenhaianh.sfl@tnu.edu.vn Nguyễn Quỳnh Anh nguyenhaianh.sfl@tnu.edu.vn <p class="tukhoa"><span lang="PT-BR" style="letter-spacing: -.1pt;">Bài viết phân tích cơ hội và thách thức trong việc bảo tồn và phát huy văn hóa dân gian Việt Nam trong kỷ nguyên số, tập trung vào vai trò của các nền tảng trực tuyến như TikTok, YouTube, Facebook, Zalo và công nghệ AI. Dựa trên lý thuyết diễn ngôn văn hóa (Foucault), dân tộc học số (Underberg &amp; Zorn) và văn hóa tham dự (Jenkins), nghiên cứu tiếp cận văn hóa dân gian như một thực hành biểu đạt đang được tái cấu trúc bởi công nghệ, cộng đồng và thuật toán. Hai trường hợp điển hình là hát Then trên TikTok và truyện cổ tích kể bằng trí tuệ nhân tạo được phân tích bằng phương pháp định tính kết hợp phân tích nội dung, diễn ngôn và quan sát tương tác số. Kết quả cho thấy các nền tảng vừa mở rộng không gian lan tỏa di sản, vừa gây ra nguy cơ phi ngữ cảnh hóa và lệch chuẩn văn hóa truyền thống. Nghiên cứu đề xuất mô hình “Hệ sinh thái bảo tồn văn hóa dân gian số” với ba trụ cột (chủ thể bản địa dẫn dắt, hợp tác kỹ thuật với nền tảng, hỗ trợ chính sách nhà nước), nhằm duy trì tính sống, khả năng tham dự và tái kiến tạo bản sắc trong môi trường số. Qua đó, bài viết góp phần làm rõ cách thức thiết kế hệ sinh thái số có định hướng văn hóa, gắn với các chính sách chuyển đổi số và phát triển văn hóa quốc gia hiện hành.</span></p> 2026-06-03T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 https://sjsh.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/697 Nghệ thuật điêu khắc và hội họa chùa Khmer đặc trưng phong cách và biến thể địa phương tại phường Trà Vinh, tỉnh Vĩnh Long 2026-06-02T16:33:42+07:00 Thạch Bồi thachboincs1971@gmail.com Nguyễn Xuân Tiên thachboincs1971@gmail.com Vũ Diệu Trung thachboincs1971@gmail.com <p>Nghệ thuật chùa Khmer Nam Bộ được xem như một chỉnh thể tạo hình thống nhất, trong đó kiến trúc, điêu khắc và hội họa cùng tương tác để kiến tạo không gian thiêng. Bài viết tập trung khảo sát đặc trưng tạo hình của điêu khắc và hội họa tại một số chùa Khmer thuộc phường Trà Vinh, tỉnh Vĩnh Long, trên cơ sở tiếp cận lịch sử mỹ thuật kết hợp với phân tích hình thái. Kết quả nghiên cứu cho thấy nghệ thuật tại đây không phải là sự sao chép từ trung tâm, mà là một dạng “biến thể mềm” trong vùng phong cách Khmer Nam Bộ. Tính kế thừa thể hiện ở việc duy trì cấu trúc biểu tượng và nguyên tắc tổ chức không gian, trong khi sự biến đổi bộc lộ qua xu hướng tiết chế mật độ trang trí, ổn định hình khối và điều chỉnh sắc độ màu. Qua đó, nghiên cứu góp phần làm rõ cơ chế vận động của phong cách và gợi mở cách tiếp cận mới trong nghiên cứu mỹ thuật chùa Khmer ở Việt Nam.</p> 2026-06-03T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 https://sjsh.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/698 Tác động của chuyển đổi số đến mỹ thuật đương đại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2000 – 2025 2026-06-02T16:37:19+07:00 Đỗ Đình Cường cuonghalosun@gmail.com <p>Từ năm 2000 đến 2025, mỹ thuật đương đại tại Thành phố Hồ Chí Minh chứng kiến sự chuyển đổi sâu rộng dưới tác động của công nghệ số. Các phương tiện mới như nhiếp ảnh số, video art, nghệ thuật sắp đặt kỹ thuật số, tương tác đa phương tiện, thực tế ảo (VR/AR) và nghệ thuật trí tuệ nhân tạo (AI Art) đã mở rộng khái niệm sáng tác, đưa mỹ thuật thoát khỏi khuôn khổ vật chất truyền thống để bước vào môi trường dữ liệu và không gian ảo. Bài nghiên cứu này tập trung phân tích bối cảnh phát triển, những xu hướng chủ đạo, thực hành nghệ thuật tiêu biểu, cũng như tác động của công nghệ số đến tư duy thẩm mỹ và hệ sinh thái nghệ thuật tại Thành phố Hồ Chí Minh. Phương pháp nghiên cứu kết hợp phân tích tài liệu, phỏng vấn nghệ sĩ và khảo sát các triển lãm đương đại từ 2000–2025. Kết quả cho thấy kỹ thuật số không chỉ là công cụ hỗ trợ sáng tác mà trở thành “ngôn ngữ thẩm mỹ” mới, góp phần định hình diện mạo mỹ thuật đô thị, thúc đẩy sự tương tác đa chiều giữa nghệ sĩ – tác phẩm – công chúng và mở rộng vị thế của nghệ thuật Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa.</p> 2026-06-03T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 https://sjsh.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/699 Phong cách nghệ thuật trong thiết kế trang thông tin điện tử lĩnh vực giáo dục đại học ở Việt Nam 2026-06-02T16:44:05+07:00 Đoàn Thị Kim Dung Kimdungdoanthi.mtcn@gmail.com <p class="tukhoa"><span lang="PT-BR">Bài viết tập trung phân tích phong cách thẩm mỹ trong thiết kế trang thông tin điện tử của một số cơ sở giáo dục đại học tiêu biểu tại Việt Nam, bao gồm Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam, cùng các mô hình quốc tế như RMIT University Vietnam và Fulbright University Vietnam. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành giữa mỹ thuật học, thiết kế giao diện và truyền thông số, nghiên cứu khảo sát mối quan hệ giữa ngôn ngữ tạo hình, cấu trúc giao diện và bản sắc học thuật của từng cơ sở đào tạo.</span></p> <p class="tukhoa"><span lang="PT-BR">Kết quả cho thấy, mặc dù cùng vận dụng các nguyên tắc thiết kế hiện đại như bố cục lưới, thiết kế đáp ứng và định hướng trải nghiệm người dùng, mỗi trường lại hình thành một phong cách thẩm mỹ riêng gắn với đặc trưng tổ chức. Đại học Quốc gia Hà Nội thể hiện phong cách học thuật chuẩn mực, tối giản; Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh mang tính hiện đại, năng động và định hướng công nghệ; Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam nổi bật với ngôn ngữ tạo hình giàu biểu cảm và bản sắc nghệ thuật; trong khi RMIT và Fulbright thể hiện xu hướng thiết kế tương tác, cá nhân hóa và kể chuyện thương hiệu.</span></p> <p class="tukhoa"><span lang="PT-BR">Từ đó, bài viết khẳng định rằng thiết kế trang thông tin điện tử không chỉ là giải pháp kỹ thuật mà còn là phương tiện biểu đạt văn hóa tổ chức, triết lý giáo dục và chiến lược xây dựng bản sắc số của các trường đại học trong bối cảnh chuyển đổi số.</span></p> 2026-06-03T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 https://sjsh.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/700 Chiếm đoạt phong cách trong trí tuệ nhân tạo tạo sinh: tác động lên nghệ sĩ ý tưởng 2026-06-02T16:46:42+07:00 Trịnh Ngọc Thiên Dung Kimdungdoanthi.mtcn@gmail.com <p>Sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo tạo sinh (Generative AI) đã tạo ra những thay đổi sâu sắc trong lĩnh vực nghệ thuật và thiết kế thị giác, đặc biệt đối với nghệ sĩ ý tưởng (concept artist) - nhóm nghệ sĩ mà giá trị nghề nghiệp gắn chặt với phong cách cá nhân và danh tính sáng tạo. Các mô hình AI hiện nay được huấn luyện trên khối lượng lớn dữ liệu nghệ thuật thu thập từ Internet, trong đó có hồ sơ năng lực (portfolio), tác phẩm minh họa và nghiên cứu hình ảnh của concept artist, nhưng quá trình thu thập này thường thiếu minh bạch và không có sự đồng thuận của nghệ sĩ. Điều này dẫn đến hiện tượng chiếm đoạt phong cách (style appropriation), nơi AI có thể tái tạo nét vẽ, bảng màu, bố cục và cấu trúc thẩm mỹ đặc trưng của nghệ sĩ, gây ra nguy cơ xâm phạm quyền nhân thân, quyền phong cách và quyền sáng tạo. Nghiên cứu này nhằm phân tích vai trò trung tâm của dữ liệu nghệ thuật trong cơ chế học của AI, đánh giá các dạng sao chép phong cách và chỉ ra những tác động trực tiếp lên concept artist, bao gồm mất nhận diện phong cách, giảm cơ hội nghề nghiệp, suy yếu thương hiệu cá nhân và thay đổi cấu trúc lao động sáng tạo. Bằng cách tích hợp các khung lý thuyết về sở hữu trí tuệ, đạo đức dữ liệu, chiếm đoạt phong cách và tính nguyên bản, nghiên cứu giải thích mối quan hệ giữa dữ liệu nghệ thuật, mô phỏng phong cách và rủi ro nghề nghiệp. Cuối cùng, bài nghiên cứu đưa ra bộ khuyến nghị nhằm bảo vệ concept artist trong thời đại AI, bao gồm yêu cầu minh bạch dữ liệu, cơ chế kiểm định phong cách, bảo vệ quyền nhân thân và phát triển năng lực sáng tạo mới để thích ứng với môi trường AI. Nghiên cứu đóng góp cho lĩnh vực nghệ thuật&nbsp; thiết kế bằng cách làm rõ các rủi ro thẩm mỹ, đạo đức và pháp lý mà AI tạo sinh đặt ra, đồng thời đề xuất giải pháp nhằm đảm bảo sự bền vững của nghề nghệ thuật ý tưởng (concept art) trong tương lai.</p> 2026-06-03T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 https://sjsh.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/701 Nghệ thuật tranh sơn dầu ở Thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số 2026-06-02T16:50:22+07:00 Lê Duy duyl@huit.edu.vn <p class="tukhoa"><span lang="PT-BR">Nghệ thuật tranh sơn dầu là một loại hình hội họa mang giá trị thẩm mỹ và văn hóa sâu sắc, góp phần quan trọng vào đời sống tinh thần của con người Việt Nam. Ở Thành phố Hồ Chí Minh, nghệ thuật tranh sơn dầu không chỉ thể hiện bản sắc dân tộc mà còn phản ánh sự năng động, hiện đại của một đô thị hội nhập. Bài viết phân tích tác động của toàn cầu hóa và chuyển đổi số đến sự phát triển của nghệ thuật tranh sơn dầu ở Thành phố Hồ Chí Minh, chỉ ra những thuận lợi, khó khăn, đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy tiềm năng sáng tạo, gìn giữ bản sắc dân tộc và hướng tới sự phát triển bền vững của nghệ thuật sơn dầu Việt Nam trong thời kỳ mới.</span></p> 2026-06-03T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 https://sjsh.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/702 Ca khúc Việt Nam sau năm 1975: từ âm nhạc cách mạng đến V-pop đương đại 2026-06-02T16:52:47+07:00 Đặng Vũ Ngân Giang dangvungangiang@gmail.com <p class="tukhoa"><span lang="PT-BR">Bài viết khảo sát sự vận động của ca khúc Việt Nam trong nước từ sau năm 1975 đến nay trong mối liên hệ với bối cảnh lịch sử – xã hội và những biến đổi của đời sống âm nhạc. Trên cơ sở hệ thống hóa các nhạc sĩ, tác phẩm tiêu biểu và các giai đoạn phát triển, bài viết đề xuất một khung phân loại ca khúc theo trường đề tài và chức năng thẩm mỹ – xã hội nổi trội, gồm: ca khúc cách mạng hậu chiến và xây dựng đất nước; ca khúc quê hương – đô thị – vùng miền; ca khúc trữ tình; ca khúc tuyên truyền – cổ động; ca khúc thiếu nhi; ca khúc nhạc phim; nhạc nhẹ thị trường; dân gian đương đại; và ca khúc về lực lượng vũ trang trong thời bình. Qua đó, bài viết làm rõ những chuyển dịch quan trọng của ca khúc Việt Nam sau 1975, từ sự mở rộng đề tài, sự thay đổi cơ chế sáng tác – sản xuất trong điều kiện thị trường hóa và công nghệ số, đến xu hướng tái tạo chất liệu dân gian trong ngôn ngữ âm nhạc đương đại, góp phần nhận diện diện mạo và những hướng vận động chính của ca khúc Việt Nam trong bối cảnh hiện đại và toàn cầu hóa.</span></p> 2026-06-03T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 https://sjsh.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/703 Cấu trúc tạo hình và cơ chế biểu đạt trong tạo hình nhân vật phim quảng cáo hoạt hình Việt Nam giai đoạn 2000–2025 2026-06-02T17:01:56+07:00 Nguyễn Đức Giang giang.nd@vlu.edu.vn <p>Bài viết khảo sát sự phát triển của tạo hình nhân vật trong phim quảng cáo hoạt hình (TVC hoạt hình) Việt Nam giai đoạn 2000–2025, tập trung vào hai khía cạnh cốt lõi: cấu trúc tạo hình (hình khối, màu sắc, đường nét, tỷ lệ) và cơ chế biểu đạt (cách thức truyền tải thông điệp thương hiệu, cảm xúc và giá trị văn hóa qua nhân vật). Dựa trên phân tích các case study điển hình (đặc biệt là các chiến dịch của Vinamilk do Kali Studio, Colory Animation Studio và DeeDee Animation Studio thực hiện), bài viết chỉ ra sự chuyển dịch từ phong cách 2D đơn giản, mang tính minh họa sang 3D phức tạp, kết hợp yếu tố anime và mascot thương hiệu. Kết quả khẳng định tạo hình nhân vật không chỉ là yếu tố thẩm mỹ mà còn là công cụ chiến lược, giúp tăng sức hút cảm xúc và khả năng ghi nhớ thương hiệu trong bối cảnh quảng cáo số hóa mạnh mẽ.</p> 2026-06-03T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 https://sjsh.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/704 Thí điểm dạy học bằng hình thức sân khấu hóa tác phẩm văn học tại Học viện múa Việt Nam 2026-06-03T09:12:14+07:00 Trịnh Thị Hồng Hạnh Honghanh163@gmail.com <p>Bài viết tập trung nghiên cứu và đánh giá việc tổ chức dạy học Ngữ văn theo hình thức sân khấu hóa tại Học viện Múa Việt Nam – một môi trường giáo dục nghệ thuật đặc thù, nơi học sinh được đào tạo chuyên sâu về biểu diễn hình thể. Trên cơ sở phân tích mối quan hệ liên ngành giữa văn học và nghệ thuật sân khấu, đặc biệt là nghệ thuật múa, nghiên cứu tiến hành thực nghiệm sư phạm đối với các văn bản tiêu biểu trong chương trình Ngữ văn lớp 10 và 11 (bộ sách <em>Kết nối tri thức với cuộc sống</em>), gồm: <em>Xuý Vân giả dại</em> (chèo Kim Nham), đoạn trích <em>Người cầm quyền khôi phục uy quyền</em> (từ <em>Những người khốn khổ</em> của Victor Hugo) và <em>Chí Phèo</em> (Nam Cao).</p> <p>Thông qua việc thiết kế quy trình dạy học gồm các bước: phân tích văn bản – xây dựng kịch bản – dàn dựng – biểu diễn – đánh giá, nghiên cứu đã làm rõ hiệu quả của phương pháp sân khấu hóa trong việc nâng cao hứng thú học tập, phát triển năng lực cảm thụ văn học, năng lực thẩm mỹ, cũng như khả năng biểu đạt cảm xúc thông qua hình thể của học sinh.</p> <p>Kết quả khảo sát cho thấy sự chuyển biến tích cực rõ rệt ở cả phương diện định lượng và định tính. Đồng thời, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc tham chiếu các dàn dựng sân khấu chuyên nghiệp góp phần nâng cao tính thực tiễn, tính định hướng nghề nghiệp và chất lượng đào tạo.</p> 2026-06-03T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 https://sjsh.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/705 Đặc trưng diễn xuất của diễn viên Sân khấu kịch thiếu nhi Ban Mai – Thành phố Hồ Chí Minh 2026-06-03T09:14:56+07:00 Lương Thị Thanh Hoa ltthanhhoa.art@gmail.com <p class="tukhoa"><span lang="PT-BR">Sân khấu kịch thiếu nhi Ban Mai, thành lập năm 2024 tại Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), là mô hình sân khấu – giải trí đa trải nghiệm dành cho thiếu nhi và gia đình, với định hướng kết hợp giữa kịch nói, nhạc kịch và nghệ thuật tương tác. Nghiên cứu dựa trên cơ sở lý thuyết của Stanislavski, Brecht, ảnh hưởng sân khấu truyền thống Việt Nam và sự giao thoa với nhạc kịch phương Tây, đồng thời có những yếu tố cấu thành phong cách diễn xuất đặc thù của Ban Mai: tính đa loại hình, tính tương tác cao, năng lượng biểu diễn hướng ngoại và khả năng kết hợp thoại – hát – múa – hình thể. Đặc trưng diễn xuất của diễn viên tại Ban Mai còn được đặt trong mối quan hệ so sánh với hai sân khấu kịch nói nổi bật khác có các vở kịch dành cho thiếu nhi tại TP.HCM là: sân khấu kịch Hoàng Thái Thanh và sân khấu kịch Idecaf. Sân khấu kịch thiếu nhi Ban Mai đang đóng góp một sân chơi mới và dành riêng cho thiếu nhi cho sân khấu TP.HCM.</span></p> 2026-06-03T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 https://sjsh.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/706 Trang phục người Dao đỏ (Tả Phìn, Lào Cai): thực hành văn hóa và thương thỏa về bản sắc 2026-06-03T09:16:59+07:00 Điền Thị Hoa Hồng Dthhongtdcn@hou.edu.vn <p>Bài viết tiếp cận trang phục của người Dao đỏ tại Tả Phìn (Lào Cai) như một thực hành văn hóa gắn liền với đời sống thường nhật, nơi cá nhân và cộng đồng trực tiếp tham gia vào quá trình tạo tác và tái định nghĩa giá trị. Nghiên cứu cho thấy việc sử dụng trang phục không tuân theo khuôn mẫu cố định mà diễn ra linh hoạt trong các quan hệ gia đình và bối cảnh kinh tế - xã hội rộng lớn. Những biến đổi về chất liệu, kỹ thuật hay hoa văn không làm xói mòn bản sắc, mà là kết quả của quá trình thương thảo liên tục giữa ý thức bồi đắp giá trị tự thân và năng lực thích ứng với những cấu trúc xã hội đang biến đổi. Từ đó, bài viết lập luận rằng trang phục không chỉ là dấu hiệu nhận diện tộc người, mà còn là không gian để chủ thể chủ động tái cấu trúc và biểu đạt bản sắc theo những cách phù hợp với bối cảnh đương đại.</p> 2026-06-03T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 https://sjsh.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/707 Cơ chế trao truyền thẩm mỹ trong lễ giỗ Tổ nghề sơn mài Tương Bình Hiệp (Bình Dương) 2026-06-03T09:19:00+07:00 Trần Thanh Hiếu tranthanhhieu@tdtu.edu.vn <p>Lễ giỗ Tổ nghề sơn mài Tương Bình Hiệp (Bình Dương) là không gian văn hoá nghề nghiệp đặc thù, nơi các giá trị và cảm quan thẩm mỹ của cộng đồng nghề được hình thành, duy trì và trao truyền qua nghi lễ. Trên cơ sở điền dã dân tộc học, kết hợp quan sát tham dự, phỏng vấn sâu và phân tích liên ngành, bài viết tập trung làm rõ cơ chế trao truyền giá trị thẩm mỹ trong lễ giỗ Tổ nghề.&nbsp;</p> <p>Kết quả nghiên cứu cho thấy cơ chế này vận hành như một hệ thống đa tầng, bao gồm thực hành tín ngưỡng, quan hệ cộng đồng nghề, hệ thống biểu tượng và trải nghiệm nghi lễ. Sự tương tác giữa các yếu tố đó tạo nên quá trình chuyển giao tương đối bền vững các chuẩn mực, cảm quan và giá trị thẩm mỹ của nghề sơn mài qua nhiều thế hệ nghệ nhân.</p> <p>Trong bối cảnh đương đại, cơ chế trao truyền thẩm mỹ này có xu hướng mở rộng không gian thực hành, đồng thời đa dạng hoá phương thức biểu đạt dưới tác động của công nghệ số và biến đổi văn hoá - xã hội.</p> 2026-06-03T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 https://sjsh.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/708 Đặc trưng nghệ thuật và kỹ thuật chế bản trong tranh khắc kim loại Việt Nam hiện nay 2026-06-03T09:21:31+07:00 Nguyễn Thị Khuyên nguyenkhuyen1983@gmail.com <p class="tukhoa"><span lang="PT-BR">Tranh khắc kim loại là một trong những kỹ thuật in đồ họa phức tạp, đòi hỏi sự kết hợp cao giữa kiến thức chất liệu, kỹ năng chế bản và tư duy tạo hình. Trong bối cảnh điều kiện đào tạo và cơ sở vật chất cho nghệ thuật đồ họa tại Việt Nam còn hạn chế, tranh khắc kim loại vẫn phát triển mạnh mẽ từ sau năm 1976, thể hiện ở sự đa dạng về kỹ thuật, màu sắc, ánh sáng, đường nét và không gian trong sáng tác. Bài báo phân tích đặc trưng kỹ thuật của tranh khắc kim loại Việt Nam đương đại, làm rõ vai trò của ánh sáng và màu sắc trong ngôn ngữ biểu đạt, đồng thời khảo sát đường nét và cách tổ chức không gian trong một số tác phẩm tiêu biểu của các họa sĩ như Lê Huy Tiếp, Đặng Minh Thành, Nguyễn Hải Hòa, Bảo Tân, Nguyễn Nghĩa Phương… Kết quả cho thấy tranh khắc kim loại Việt Nam hiện nay đã hình thành bản sắc riêng, kết hợp hài hòa giữa kỹ thuật truyền thống và các phương pháp hiện đại, khẳng định vị trí của loại hình này trong đời sống mỹ thuật đương đại.</span></p> 2026-06-03T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 https://sjsh.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/709 Cái tôi trữ tình trong thơ thiếu nhi Nguyễn Lãm Thắng 2026-06-03T09:23:41+07:00 Phạm Phương Liên phuonglien.phamtht@gmail.com <p>Bài viết vận dụng một số khái niệm của thi pháp học để tìm hiểu cái tôi trữ tình - yếu tố quan trọng tạo nên nét đặc sắc trong thế giới nghệ thuật thơ thiếu nhi Nguyễn Lãm Thắng. Qua khảo sát một số tác phẩm tiêu biểu, bài viết chỉ ra các sắc thái thể hiện của cái tôi trữ tình trong thơ thiếu nhi Nguyễn Lãm Thắng là: cái tôi ưa khám phá; cái tôi bé thơ chăm ngoan, hiếu thảo; và cái tôi hóa thân hòa điệu vào thiên nhiên. Từ đó, bài viết góp phần làm rõ nét riêng trong phong cách sáng tác của Nguyễn Lãm Thắng trong văn học thiếu nhi Việt Nam đương đại.</p> 2026-06-03T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 https://sjsh.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/710 Yếu tố ảnh hưởng đến tạo hình đồ đạc nội thất Hoàng cung triều Nguyễn ở Việt Nam 2026-06-03T09:27:28+07:00 Nguyễn Thị Bích Liễu nguyenbichlieu@hou.edu.vn <p>Đồ đạc nội thất ngự dụng hoàng cung triều Nguyễn là một bộ phận quan trọng của di sản mỹ thuật cung đình Việt Nam, phản ánh trực tiếp tư tưởng chính trị, thẩm mỹ và bối cảnh văn hóa, xã hội của vương triều cuối cùng trong lịch sử phong kiến. Bài báo tập trung phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tạo hình đồ đạc nội thất ngự dụng triều Nguyễn, bao gồm: nền tảng văn hóa truyền thống, tư tưởng thẩm mỹ phương Đông và sự tiếp biến có chọn lọc các yếu tố văn hóa phương Tây trong bối cảnh cận hiện đại. Thông qua phương pháp nghiên cứu liên ngành kết hợp khảo cứu lịch sử, phân tích mỹ thuật học và đối chiếu tư liệu hiện vật, bài viết làm rõ cơ chế kế thừa, chuẩn hóa, dung hợp trong quá trình hình thành phong cách tạo hình nội thất cung đình Huế. Kết quả nghiên cứu cho thấy, đồ đạc nội thất ngự dụng triều Nguyễn là vật dụng sinh hoạt hay nghi lễ, là phương tiện vật chất hóa tư tưởng quân quyền, lễ trị và thẩm mỹ nhân văn Á Đông, đồng thời là minh chứng sinh động cho khả năng thích ứng và sáng tạo của mỹ thuật cung đình Việt Nam trước những biến động văn hóa khu vực và phương Tây cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.</p> 2026-06-03T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 https://sjsh.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/711 Nghệ thuật tạo hình trên trang phục nữ của tộc người Mông Hoa 2026-06-03T09:29:58+07:00 Nguyễn Thị Loan nguyenthinhung89@hpu2.edu.vn Nguyễn Thị Nhung nguyenthinhung89@hpu2.edu.vn <p>Bài viết nghiên cứu về nghệ thuật tạo hình trang phục nữ của tộc người Mông Hoa ở Lào Cai nhằm lí giải về nguyên lí tạo hình trang phục, kỹ thuật trang trí; vai trò của các kĩ thuật trang trí như vẽ sáp ong, thêu thổ cẩm, đắp ghép vải trong việc hình thành bố cục thị giác trang phục. Nghiên cứu được thực hiện bằng phương pháp điền dã, phân tích tư liệu qua quan sát thực địa, chụp ảnh, ghi chép trên địa bàn của Bắc Hà, Lào Cai trong thời gian tháng 8 năm 2025, kết hợp với phương pháp nghệ thuật học nhằm phân tích hai bộ trang phục của phụ nữ Mông Hoa tiêu biểu là trang phục thường ngày và trang phục lễ hội. Kết quả nghiên cứu cho thấy trang phục của phụ nữ Mông Hoa được tạo hình theo cấu trúc và nguyên lí thị giác rõ ràng như: Về phom dáng từ cấu trúc hình học cơ bản như hình chữ nhật, hình vuông, hình thang; về trang trí được triển khai sắp xếp bố cục các mô típ hoa văn theo các nguyên lý lặp lại, đối xứng, đan xen và đối lập/ tương phản tạo nên tính nhịp điệu thị giác đặc trưng. Đặc biệt ba kỹ thuật vẽ sáp ong, thêu thổ cẩm và đắp ghép vải luôn được khai thác phối hợp tạo thành các lớp không gian nền đậm, trung gian và điểm nhấn sáng theo từng vị trí của mảnh hình. Bài viết góp phần làm rõ các giá trị tạo hình của trang phục từ góc nhìn nghệ thuật học, đồng thời gợi mở ý tưởng nghiên cứu các giá trị nghệ thuật truyền thống, dân gian vào ứng dụng thiết kế thời trang đương đại.</p> 2026-06-03T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 https://sjsh.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/712 Ứng dụng họa tiết Rồng - Mây thời Trần trong thiết kế nhân vật game 2D 2026-06-03T09:32:59+07:00 NguyễnTất Mão maont@ptit.edu.vn Huỳnh Thị Tuyết Trinh maont@ptit.edu.vn <p class="tukhoa"><span lang="PT-BR">Bài nghiên cứu tập trung khảo sát và phân tích quá trình <span class="font-semibold">chuyển hoá hoạ tiết Rồng – Mây thời Trần</span> vào thiết kế <span class="font-semibold">nhân vật game 2D</span>, với định hướng bảo tồn và phát huy giá trị mỹ thuật truyền thống Việt Nam trong không gian sáng tạo kỹ thuật số. Trên cơ sở lý luận về <span class="font-semibold">mỹ thuật cổ Việt</span>, kết hợp với việc nhận diện <span class="font-semibold">giá trị biểu tượng, tính thẩm mỹ và ngôn ngữ tạo hình</span> của hoạ tiết Rồng – Mây, nghiên cứu đã xây dựng quy trình thiết kế nhân vật gồm các giai đoạn: <span class="font-semibold">khảo cứu tư liệu, phác thảo ý tưởng, dựng hình tuyến tính, phối màu – xử lý chất liệu, hoàn thiện chuyển động và thử nghiệm trong môi trường game</span>. Mỗi giai đoạn đều được thực hiện dựa trên nguyên tắc tôn trọng giá trị nguyên gốc của di sản, đồng thời vận dụng tư duy thẩm mỹ và công cụ của thời đại số để mở rộng khả năng biểu đạt hình ảnh. Việc chuyển thể hoạ tiết Rồng – Mây thời Trần sang thiết kế nhân vật không chỉ tạo nên mẫu hình nghệ thuật mang phong cách độc đáo, mà còn chứng minh được <span class="font-semibold">khả năng giao thoa hài hoà giữa truyền thống và hiện đại</span> trong lĩnh vực mỹ thuật ứng dụng. Đây là minh chứng cho việc di sản văn hoá có thể được “tái sinh” thông qua sáng tạo, trở thành nguồn cảm hứng cho thế hệ nghệ sĩ – nhà thiết kế trẻ hôm nay. Hơn cả một công trình thiết kế, nghiên cứu khẳng định vai trò của người sáng tạo Việt như <span class="font-semibold">cầu nối giữa quá khứ và tương lai</span>, góp phần lan toả bản sắc dân tộc và tái khẳng định vị thế văn hoá Việt Nam trên bản đồ nghệ thuật kỹ thuật số toàn cầu.</span></p> 2026-06-03T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 https://sjsh.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/713 Họa tiết rồng thời Trần ứng dụng trong thiết kế nhân vật hoạt hình 2026-06-03T09:40:00+07:00 Nguyễn Tất Mão maont@ptit.edu.vn Huỳnh Thị Tuyết Trinh maont@ptit.edu.vn Huỳnh Thị Thuỷ Tiên maont@ptit.edu.vn <p>Phát triển công nghiệp văn hóa trên nền tảng bản sắc truyền thống là định hướng chiến lược của Việt Nam, trong đó hoạt hình giữ vai trò quan trọng nhờ khả năng truyền tải văn hóa qua câu chuyện và nhân vật. Với kho tàng di sản tạo hình phong phú, đặc biệt là họa tiết rồng thời Trần – biểu tượng của nguồn gốc dân tộc, tinh thần tự chủ và sức mạnh bảo hộ – việc khai thác mô típ truyền thống cho thiết kế nhân vật hoạt hình mang ý nghĩa thiết thực.</p> <p>Nghiên cứu này sử dụng các phương pháp tổng hợp, phân tích hình thái, ký hiệu và biểu tượng để xác định đặc trưng tạo hình của rồng thời Trần, từ đó chuyển hóa có chọn lọc vào thiết kế một nhân vật hoạt hình minh họa. Kết quả là khung phương pháp tiếp cận ba lớp và mẫu nhân vật “Tướng Long Thần”, cho thấy khả năng tạo dựng hình tượng mang bản sắc Việt mà vẫn phù hợp với ngôn ngữ tạo hình đương đại.</p> <p>Nghiên cứu đóng góp một quy trình có thể tái lập cho việc ứng dụng di sản mỹ thuật truyền thống vào thiết kế hoạt hình, góp phần bảo tồn – phát huy giá trị văn hóa và mở rộng nguồn tài nguyên sáng tạo cho công nghiệp nội dung số Việt Nam.</p> 2026-06-03T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 https://sjsh.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/714 Bố cục tổng thể và cấu trúc tổ chức hình khối của đôn voi gốm Nam bộ 2026-06-03T09:43:58+07:00 Phạm Tấn Phước phuocpt1985@tdmu.edu.vn <p>Bài viết phân tích bố cục tổng thể và cấu trúc tổ chức hình khối của đôn voi gốm Nam Bộ dưới góc nhìn mỹ thuật học. Trên cơ sở phương pháp định tính kết hợp khảo sát hiện vật và phân tích hình thức, nghiên cứu làm rõ nguyên tắc tổ chức ba phần gồm mặt đôn, thân đôn và đế đôn trong một chỉnh thể thống nhất theo trục đứng. Kết quả cho thấy cấu trúc này không chỉ đáp ứng yêu cầu công năng nâng đỡ mà còn thể hiện tư duy tạo hình hướng đến sự cân bằng thị giác và ổn định khối. Mặt đôn được chuyển hóa từ hình tượng bành voi, thân đôn dung hòa giữa biểu tượng và cấu kiện chịu lực, còn đế đôn giữ vai trò nền tảng bảo đảm thế vững chãi cho toàn bộ cấu trúc. Biểu hiện thẩm mỹ của đôn voi gốm được thể hiện qua sự hài hòa tỷ lệ, nhịp điệu khối và mối quan hệ giữa ổn định và chuyển động. Qua đó, đôn voi gốm được nhận diện như một hiện tượng tạo hình tiêu biểu của mỹ thuật Nam Bộ.<strong>&nbsp;&nbsp;&nbsp; </strong></p> 2026-06-03T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 https://sjsh.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/715 Năng lực hiểu biết trí tuệ nhân tạo, kỹ năng đặt câu lệnh và niềm tin vào nội dung AI của sinh viên truyền thông số trong bối cảnh văn hóa thị giác đương đại 2026-06-03T09:46:40+07:00 Nguyễn Mai Phương Phuongnm@giadinh.edu.vn Võ Hoàng Khoa Phuongnm@giadinh.edu.vn <p>Sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo tạo sinh (Generative Artificial Intelligence) đang tái cấu trúc môi trường giáo dục đại học và hệ sinh thái truyền thông số, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất nội dung thị giác. Đối với sinh viên ngành Truyền thông số, AI không còn chỉ là công cụ hỗ trợ kỹ thuật mà đã trở thành một tác nhân tham gia trực tiếp vào quá trình sáng tạo nội dung, thiết kế hình ảnh và tổ chức trải nghiệm truyền thông đa nền tảng. Trong bối cảnh đó, năng lực hiểu biết trí tuệ nhân tạo (AI literacy), kỹ năng đặt câu lệnh (<em>prompt engineering</em>) và niềm tin vào nội dung do AI tạo ra trở thành những thành tố quan trọng phản ánh khả năng thích ứng của người học trong môi trường văn hóa thị giác đương đại. Nghiên cứu sử dụng phương pháp tổng quan tường thuật (<em>narrative review</em>) nhằm tổng hợp và phân tích các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế giai đoạn 2020–2026 liên quan đến AI literacy, kỹ năng tương tác với AI tạo sinh, hành vi tiếp nhận nội dung AI và các vấn đề đạo đức truyền thông. Kết quả cho thấy AI literacy đang chuyển từ năng lực công nghệ sang một dạng năng lực văn hóa mới; đồng thời, kỹ năng đặt câu lệnh nổi lên như một năng lực sáng tạo số cốt lõi trong tương tác người – AI. Tuy nhiên, các nghiên cứu cũng chỉ ra nghịch lý giữa mức độ sử dụng AI ngày càng cao với năng lực kiểm chứng, tư duy phản biện và đánh giá độ tin cậy nội dung còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất tích hợp AI literacy, prompt literacy, visual literacy và đạo đức AI vào đào tạo Truyền thông số nhằm phát triển năng lực sáng tạo có trách nhiệm trong bối cảnh truyền thông đương đại.</p> 2026-06-03T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 https://sjsh.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/716 Giá trị nghệ thuật trong trang trí gốm truyền thống Bình Dương 2026-06-03T09:51:57+07:00 Trương Thị Quyên quyentt@ptit.edu.vn <p>Gốm truyền thống Bình Dương là một bộ phận quan trọng của di sản thủ công mỹ nghệ Nam Bộ, phản ánh rõ quá trình hình thành, phát triển và giao thoa văn hóa của vùng đất này. Không chỉ có giá trị sử dụng trong đời sống sinh hoạt, tín ngưỡng và trang trí, sản phẩm gốm Bình Dương còn mang giá trị nghệ thuật đặc sắc, thể hiện qua ngôn ngữ tạo hình, hệ thống hoa văn, màu sắc, men gốm và kỹ thuật thể hiện. Trong đó, nghệ thuật trang trí giữ vai trò nổi bật, góp phần tạo nên diện mạo thẩm mỹ riêng và khẳng định bản sắc văn hóa địa phương. Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu lý luận mỹ thuật học kết hợp với lý thuyết tiếp biến văn hóa, đồng thời vận dụng các thao tác phân tích, tổng hợp, so sánh và khảo sát thực địa. Kết quả nghiên cứu cho thấy trang trí gốm Bình Dương mang giá trị nghệ thuật đặc sắc ở sự hài hòa giữa công năng và thẩm mỹ, ở phong cách trang trí mộc mạc nhưng giàu biểu cảm, cùng kỹ thuật thể hiện thể hiện rõ tay nghề và tư duy sáng tạo của nghệ nhân. Qua đó, bài viết góp phần bổ sung cơ sở khoa học cho việc bảo tồn và phát huy giá trị gốm truyền thống trong bối cảnh hiện nay. Nghiên cứu giá trị nghệ thuật trong trang trí gốm truyền thống Bình Dương nhằm làm rõ những đặc trưng thẩm mỹ và ý nghĩa văn hóa được biểu hiện trên bề mặt và hình thức trang trí của sản phẩm gốm. Trọng tâm nghiên cứu là phân tích các yếu tố cấu thành giá trị nghệ thuật như tạo hình, hoa văn, màu sắc, men gốm và kỹ thuật trang trí, qua đó khẳng định vai trò của trang trí trong việc định hình phong cách riêng của gốm Bình Dương. Đối tượng nghiên cứu là các yếu tố trang trí trên sản phẩm gốm truyền thống tại các làng gốm tiêu biểu như Lái Thiêu, Thuận An và Tân Phước Khánh. Phạm vi khảo sát được giới hạn từ cuối thế kỷ XIX đến nay, đặt trong mối liên hệ với bối cảnh lịch sử, văn hóa và xã hội địa phương.</p> 2026-06-03T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 https://sjsh.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/719 Ứng dụng họa tiết hoa văn vốn cổ vào trang trí thiết kế sản phẩm 2026-06-03T09:56:13+07:00 Trương Thị Quyên quyentt@ptit.edu.vn Nguyễn Thu Bình quyentt@ptit.edu.vn <p>Trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự phát triển của công nghiệp sáng tạo, nghiên cứu tập trung vào việc khai thác hệ họa tiết - hoa văn vốn cổ Việt Nam như một nguồn tư liệu tạo hình giàu bản sắc để ứng dụng vào thiết kế sản phẩm đương đại. Trên cơ sở lý luận về khái niệm, vai trò và giá trị di sản của hoa văn cổ, bài viết nhận diện đặc điểm tạo hình đặc trưng (đường nét cách điệu, bố cục ổn định, giá trị biểu trưng) và phân loại chúng thành bốn nhóm chính: hình học, động vật - linh vật, thực vật và dân gian – kiến trúc. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các nguyên tắc ứng dụng gồm: giữ bản sắc tạo hình, tối ưu công năng và hài hòa truyền thống - hiện đại, gắn với lý thuyết tiếp biến văn hóa qua hai hướng tiếp cận kế thừa – bảo tồn và sáng tạo – tái cấu trúc. Về phương pháp, đề tài sử dụng các kỹ thuật biến dạng - cách điệu, tối giản hóa và kết hợp chất liệu hiện đại, triển khai quy trình thiết kế gồm số hóa mô-típ, xử lý tạo hình, thử nghiệm chất liệu, mô phỏng 3D và hoàn thiện sản phẩm. Kết quả thực nghiệm trên nhóm poster và sản phẩm minh họa cho thấy mức độ khả thi, tính thẩm mỹ và khả năng tiếp nhận tích cực, đồng thời gợi mở hướng thương mại hóa và nghiên cứu tiếp theo về dữ liệu số và vật liệu bền vững.</p> 2026-06-03T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 https://sjsh.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/721 Nghệ thuật trang trí trong thiết kế trang phục dạ hội tại Việt Nam hiện nay 2026-06-03T10:04:56+07:00 Phạm Ngọc Thư phamngocthu@tdtu.edu.vn <p class="tukhoa"><span lang="PT-BR">Khởi nguồn từ bản năng hướng mỹ của con người, nghệ thuật trang trí không chỉ dừng lại ở yếu tố thị giác mà còn là lăng kính phản chiếu bản sắc văn hóa và đời sống tinh thần của nhân loại. Đặc biệt, trong lĩnh vực thiết kế trang phục dạ hội, nghệ thuật trang trí chính là yếu tố then chốt tạo nên sức sống và giá trị thẩm mỹ cho trang phục. Vì vậy, bài nghiên cứu này tập trung phân tích vai trò cùng tầm ảnh hưởng của nghệ thuật trang trí đối với thiết kế trang phục dạ hội tại Việt Nam hiện nay, đồng thời hệ thống hóa ba phương pháp trang trí tiêu biểu để đánh giá tác động của chúng lên quy trình thiết kế trang phục dạ hội. Thông qua việc phân tích một số bộ sưu tập đến từ những nhà thiết kế nổi tiếng, nghiên cứu muốn làm sáng tỏ sự giao thoa giữa nghệ thuật trang trí tinh xảo và tư duy thiết kế hiện đại. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng gợi mở những hướng đi mới cho các nhà thiết kế trẻ trong việc bảo tồn và phát triển di sản của nghệ thuật trang trí thủ công kết hợp với ngôn ngữ thiết kế đương đại.</span></p> 2026-06-03T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 https://sjsh.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/722 Đặc trưng ngôn ngữ tạo hình trong kiến trúc chợ Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh 2026-06-03T10:08:31+07:00 Nguyễn Công Trí trinc@hcmute.edu.vn <p>Kiến trúc chợ tại Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những loại hình kiến trúc công cộng đặc thù, phản ánh sinh động đời sống kinh tế – văn hóa – xã hội đô thị Nam Bộ từ cuối thế kỷ XIX đến nay. Bài báo tập trung khảo sát ba chợ tiêu biểu: <strong>Chợ Bến Thành</strong>, <strong>Chợ Bình Tây</strong> và <strong>Chợ Tân Định</strong>, nhằm nhận diện đặc trưng ngôn ngữ tạo hình thể hiện qua hình khối kiến trúc, tổ chức mặt bằng, chi tiết trang trí, chất liệu và biểu tượng mỹ thuật. Thông qua phân tích hệ thống, bài viết chỉ ra rằng ngôn ngữ tạo hình của chợ Sài Gòn mang tính giao thoa Đông – Tây rõ rệt, kết hợp giữa nguyên tắc công năng của kiến trúc phương Tây với chất liệu biểu tượng dân gian Nam Bộ. Từ hệ mái cong, tháp đồng hồ, lan can trang trí, đến các họa tiết long – phụng, hoa lá, mây hình uốn lượn, kiến trúc chợ không chỉ đáp ứng yêu cầu thương mại mà còn trở thành một “bản sắc thị giác” của đô thị Sài Gòn. Trong bối cảnh hiện đại hóa và tái thiết đô thị, việc nghiên cứu, bảo tồn và phát huy ngôn ngữ tạo hình của kiến trúc chợ có ý nghĩa quan trọng trong gìn giữ di sản đô thị và nhận diện bản sắc văn hóa của Thành phố Hồ Chí Minh.</p> 2026-06-03T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 https://sjsh.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/723 Tranh dân gian Đông Hồ tối ưu hoá hệ thống màu sắc vào thiết kế giao diện website 2026-06-03T10:14:45+07:00 Huỳnh Thị Tuyết Trinh trinhhtt@ptit.edu.vn Huỳnh Thị Thuỷ Tiên trinhhtt@ptit.edu.vn Nguyễn Tất Mão maont@ptit.edu.vn <p>Nghiên cứu tập trung phân tích hệ màu đặc trưng của tranh dân gian Đông Hồ – di sản mỹ thuật Việt Nam với năm gam màu truyền thống: đỏ, vàng, xanh, đen và trắng nền giấy dó. Từ 12 mẫu tranh đại diện, tỷ lệ màu được định lượng gồm: đỏ 35–45%, vàng 25–30%, xanh 15–20%, đen 10–15% và trắng 5–10%. Trên cơ sở lý thuyết màu sắc và công cụ đo lường kỹ thuật số, các giá trị RGB/HEX tương ứng được chuẩn hóa để xây dựng “DongHo Color System” với 5 cấp độ sáng–tối, đáp ứng các tiêu chí UX/UI về tương phản, hài hòa ấm – lạnh và phân cấp thị giác.</p> <p>Hệ màu sau tối ưu được thử nghiệm trong thiết kế giao diện website, cho thấy khả năng duy trì nhận diện thị giác và truyền tải bản sắc văn hóa trong môi trường số. Nghiên cứu đồng thời làm rõ khác biệt giữa màu in truyền thống và màu hiển thị kỹ thuật số, từ đó đề xuất các hướng phát triển như VR/AR, ứng dụng trích xuất palette tự động và thiết kế bền vững. Kết quả được sử dụng như một case study trong đào tạo thiết kế giao diện, góp phần bảo tồn và tái hiện di sản màu sắc Đông Hồ trong bối cảnh thiết kế số đương đại.</p> 2026-06-03T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 https://sjsh.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/724 Giá trị nghệ thuật trang trí kiến trúc lăng mộ tại nghĩa trang làng An Bằng, thành phố Huế 2026-06-03T10:35:24+07:00 Đỗ Hữu Tú tu.songkon@gmail.com <p>Nghĩa trang làng An Bằng (xã Vinh An, huyện Phú Vang, Thành phố Huế) được xem là một trong những quần thể kiến trúc lăng mộ độc đáo tại Việt Nam. Với sự kết hợp giữa kiến trúc truyền thống và các yếu tố trang trí mang tính hiện đại, khu nghĩa trang này tạo nên một không gian mỹ thuật đặc biệt, phản ánh đời sống văn hóa và tín ngưỡng của cộng đồng cư dân địa phương. Bài viết nhằm phân tích các giá trị nghệ thuật trong trang trí lăng mộ tại nghĩa trang An Bằng thông qua các yếu tố như bố cục kiến trúc, họa tiết trang trí, màu sắc và biểu tượng văn hóa. Kết quả nghiên cứu cho thấy nghệ thuật trang trí tại đây không chỉ thể hiện sự giao thoa giữa văn hóa truyền thống và hiện đại mà còn phản ánh mối liên hệ giữa ký ức cộng đồng, tín ngưỡng và bản sắc văn hóa vùng duyên hải miền Trung.</p> 2026-06-03T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 https://sjsh.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/725 Tái tạo không gian văn hóa: sự hình thành không gian thiêng núi Bà Đen, tỉnh Tây Ninh 2026-06-03T10:41:47+07:00 Hoàng Thị Tuyền tuyenht@hub.edu.vn <p class="tukhoa"><span lang="PT-BR">Bài viết dựa trên lý thuyết về sản xuất không gian văn hóa (place making) để nghiên cứu về quá trình tái tạo không gian thiêng núi Bà Đen, tỉnh Tây Ninh. Nghiên cứu cho thấy, quá trình tái tạo không gian thiêng là một quá trình tạo ý nghĩa liên tục dưới sự tương tác của các mối quan hệ giữa con người với con người và con người với địa điểm thiêng. Con người với những hoạt động có chủ đích tác động làm thay đổi không gian vật lý nhằm mang lại những tương tác và trải nghiệm cụ thể. Đồng thời, các mối quan hệ cộng đồng được thiết lập với những động lực hỗn hợp, thể hiện vai trò là tác nhân trong việc định hình không gian thiêng. Qua quá trình tạo dựng không gian thiêng núi Bà Đen, tỉnh Tây Ninh, bài viết làm rõ cách thức mà những động lực chính trị, kinh tế, xã hội đã góp phần tái định nghĩa không gian tín ngưỡng truyền thống.</span></p> 2026-06-03T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 https://sjsh.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/726 Quản trị và trao quyền cho cộng đồng, mô hình phát triển du lịch di sản bền vững tại vùng Nam Khánh Hòa 2026-06-03T10:47:40+07:00 Nguyễn Ngọc Sơn gocsonfair78@gmail.com Đinh Văn Hạnh ngocsonfair78@gmail.com Đào Duy Tuấn ngocsonfair78@gmail.com <p>Bài báo phân tích thực trạng quản trị di sản văn hóa Chăm tại Nam Khánh Hòa trong bối cảnh phát triển du lịch cộng đồng. Nghiên cứu vận dụng cách tiếp cận “di sản sống” (UNESCO, 2003), kết hợp với lý thuyết trao quyền (Arnstein, 1969; Tosun, 2006) nhằm đánh giá mức độ tham gia và quyền kiểm soát của cộng đồng trong quá trình phát huy di sản. Kết quả cho thấy, dù là chủ thể thực hành di sản, cộng đồng người Chăm chủ yếu chỉ tham gia ở cấp độ thực hiện, trong khi quyền quyết định và cơ chế phân bổ lợi ích vẫn chịu sự chi phối của mô hình quản lý hành chính đơn tuyến. Thực trạng này phản ánh khoảng cách giữa các định hướng quốc tế về quản trị di sản dựa vào cộng đồng và thực tiễn địa phương, đồng thời cho thấy di sản là không gian xã hội gắn với quan hệ quyền lực và lợi ích. Trên cơ sở đó, bài báo đề xuất mô hình đồng quản trị với ba trụ cột Nhà nước – Cộng đồng – Doanh nghiệp, nhằm bảo đảm quyền văn hóa, sinh kế và tham gia quyết định của cộng đồng, hướng tới phát triển di sản bền vững.</p> 2026-06-03T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 https://sjsh.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/727 Ẩm thực đường phố Hà Nội: động lực thu hút du khách quốc tế và phát triển du lịch bền vững 2026-06-03T13:33:11+07:00 Nguyễn Phương Thảo thaonp2@haui.edu.vn Trần Lệ Khánh thaonp2@haui.edu.vn Trịnh Đăng Khoa thaonp2@haui.edu.vn <p class="tukhoa"><span lang="PT-BR">Ẩm thực đường phố đang trở thành một yếu tốt quan trọng, góp phần nâng cao trải nghiệm và sức hấp dẫn của các điểm đến. Nghiên cứu này phân tích vai trò của ẩm thực đường phố Hà Nội trong việc thu hút du khách quốc tế và phát triển du lịch theo hướng bền vững. Bài viết hệ thống hoá cơ sở lý luận về du lịch ẩm thực, làm rõ đặc trưng và giá trị trải nghiệm của ẩm thực đường phố tại Thủ đô Hà Nội. Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố góp phần nâng cao mức độ hài lòng, ý định quay lại điểm đến của du khách phụ thuộc vào sự đa dạng của món ăn, không gian ẩm thực mang tính bản địa và tính xác thực trong trải nghiệm. Nghiên cứu cũng đề xuất một số giải pháp nhằm khai thác hiệu quả giá trị ẩm thực đường phố góp phần phát triển du lịch Hà Nội theo hướng bền vững.</span></p> 2026-06-03T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 https://sjsh.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/728 Báo chí giải pháp tác động đến niềm tin thương hiệu của cơ sở giáo dục đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh 2026-06-03T13:36:47+07:00 Nguyễn Công Khanh khanhnc@ptit.edu.vn <p>Trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt giữa các cơ sở giáo dục đại học tại TP.HCM hiện nay, việc xây dựng niềm tin thương hiệu trở thành yếu tố quyết định đến lựa chọn của người học và khả năng thu hút sinh viên. Nghiên cứu này phân tích tác động của báo chí giải pháp (solutions journalism) đến niềm tin thương hiệu của các trường đại học trên địa bàn TP.HCM. Dựa trên lý thuyết truyền thông tích cực và niềm tin thương hiệu, nghiên cứu tập trung làm rõ ảnh hưởng của các đặc tính chính gồm tính xây dựng, tính minh bạch và định hướng giải pháp đến nhận thức và niềm tin của công chúng. Phương pháp nghiên cứu hỗn hợp được áp dụng gồm khảo sát định lượng với 200–300 sinh viên, phụ huynh và người quan tâm đến giáo dục đại học, kết hợp phỏng vấn sâu chuyên gia truyền thông và quản trị giáo dục, sau đó phân tích thống kê dữ liệu. Kết quả cho thấy báo chí giải pháp tác động tích cực đến niềm tin thương hiệu thông qua việc nâng cao nhận thức về tính minh bạch, trách nhiệm xã hội và năng lực giải quyết vấn đề của các cơ sở giáo dục. Đồng thời, nhận thức thông tin và mức độ tin cậy vào báo chí đóng vai trò trung gian quan trọng. Nghiên cứu góp phần mở rộng ứng dụng lý thuyết báo chí giải pháp vào lĩnh vực giáo dục đại học, đồng thời cung cấp cơ sở khoa học thực tiễn để các trường đại học tại TP.HCM xây dựng chiến lược truyền thông hiệu quả, củng cố niềm tin thương hiệu trước công chúng.</p> 2026-06-03T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 https://sjsh.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/729 Vai trò của báo chí trong giải pháp xây dựng thương hiệu tại các trường đại học ở Thành phố Hồ Chí Minh 2026-06-03T13:42:22+07:00 Nguyễn Công Khanh khanhnc@ptit.edu.vn Lê Phước Toàn Như khanhnc@ptit.edu.vn <p class="tukhoa"><span lang="PT-BR">Trong bối cảnh giáo dục đại học tại TP. Hồ Chí Minh đang cạnh tranh quyết liệt về tuyển sinh, nghiên cứu và hợp tác doanh nghiệp, xây dựng thương hiệu đại học trở thành nhiệm vụ chiến lược của mỗi cơ sở đào tạo. Bên cạnh các hoạt động truyền thông truyền thống, báo chí giải pháp (solutions journalism) nổi lên như một tiếp cận báo chí – truyền thông hiện đại, nhấn mạnh vào việc phản ánh các mô hình hiệu quả, giải pháp cụ thể và tác động xã hội thực chất. Bài báo hệ thống hóa một số khái niệm, đặc điểm cốt lõi của báo chí giải pháp; phân tích vai trò của báo chí giải pháp trong việc thể hiện sứ mệnh, giá trị cốt lõi, nâng cao uy tín và năng lực cạnh tranh của thương hiệu đại học tại TP. HCM; đồng thời chỉ ra các thách thức về nhận thức, nguồn lực, dữ liệu và mô hình thực tiễn khi áp dụng. Từ đó, bài báo đề xuất một số giải pháp mang tính chiến lược như nâng cao nhận thức, phát triển năng lực sản xuất nội dung, xây dựng cơ chế chia sẻ thông tin minh bạch, đầu tư mô hình đổi mới đặc trưng và tăng cường hợp tác với báo chí chuyên nghiệp. Kết quả nghiên cứu góp phần khẳng định báo chí giải pháp không chỉ là công cụ truyền thông mà còn là nền tảng giúp các trường đại học thể hiện trách nhiệm xã hội và tạo dựng thương hiệu bền vững trong thời kỳ chuyển đổi số.</span></p> 2026-06-03T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 https://sjsh.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/730 Bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo ở Việt Nam hiện nay 2026-06-03T13:45:21+07:00 Cao Thị Phương Nhung nhungctp@vnad.edu.vn <p>Bình đẳng giới trong giáo dục – đào tạo là nền tảng quan trọng để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội. Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận trong việc bảo đảm quyền tiếp cận giáo dục của phụ nữ và trẻ em gái, từng bước thu hẹp khoảng cách giới trong giáo dục phổ thông, đào tạo nghề và giáo dục đại học. Tuy nhiên, trong bối cảnh phát triển kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế, bất bình đẳng giới trong giáo dục – đào tạo vẫn tồn tại ở nhiều khía cạnh, đặc biệt là về chất lượng đào tạo, cơ hội học tập nâng cao, tiếp cận giáo dục ở vùng khó khăn, cũng như tỷ lệ nữ có học hàm, học vị cao. Bài viết phân tích cơ sở lý luận và pháp lý về bình đẳng giới trong giáo dục – đào tạo; đánh giá thực trạng ở Việt Nam hiện nay trên cơ sở các số liệu thống kê và báo cáo nghiên cứu; chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân; từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy bình đẳng giới trong giáo dục – đào tạo, góp phần phát triển nguồn nhân lực nữ đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.</p> 2026-06-03T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 https://sjsh.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/731 Đo lường nhận thức đạo đức AI của sinh viên theo 7 nguyên tắc Unesco (2021): thực trạng và hàm ý 2026-06-03T13:47:48+07:00 Bùi Thanh Thủy btthuy@vnu.edu.vn Nguyễn Thu Hà btthuy@vnu.edu.vn Phạm Thúy Hà btthuy@vnu.edu.vn Hoàng Thúy An btthuy@vnu.edu.vn Nguyễn Thị Hải btthuy@vnu.edu.vn <p class="tukhoa"><span lang="PT-BR">Nghiên cứu này vận dụng Khuyến nghị về đạo đức trí tuệ nhân tạo của UNESCO (2021) để xây dựng và áp dụng một thang đo dựa trên các nguyên tắc đạo đức AI nhằm đánh giá mức độ nhận thức đạo đức AI của sinh viên đại học Việt Nam. Khảo sát được thực hiện với 307 sinh viên tại các cơ sở giáo dục đại học. Kết quả cho thấy nhận thức đạo đức AI của sinh viên đạt mức tương đối cao, đặc biệt ở các khía cạnh độ tin cậy kỹ thuật, quyền riêng tư và minh bạch. Phân tích so sánh cho thấy giới tính, khối ngành và tần suất sử dụng AI không tạo ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về mức độ nhận thức đạo đức AI. Trong khi đó, sự khác biệt theo năm học được ghi nhận, với sinh viên năm nhất có mức nhận thức cao hơn sinh viên năm hai. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất tăng cường giáo dục đạo đức AI trong chương trình đào tạo đại học, đặc biệt ở giai đoạn đầu, nhằm hình thành thói quen sử dụng AI có trách nhiệm cho sinh viên.</span></p> 2026-06-03T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 https://sjsh.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/732 Quan hệ kinh tế Ấn Độ - Malaysia từ năm 2009 đến nay 2026-06-03T14:03:56+07:00 Phùng Gia Bách phunggiabach@hpu2.edu.vn <p class="tukhoa"><span lang="PT-BR">Ấn Độ và Malaysia đã chứng kiến sự phát triển nhanh chóng trong mối quan hệ song phương kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức năm 1957. Đặc biệt, Hiệp định thương mại tự do ASEAN - Ấn Độ (AIFTA) được ký kết tại Thái Lan vào tháng 8 – 2009 đã tạo ra cú hích mới cho hợp tác thương mại giữa Ấn Độ với các nước ASEAN nói chung, với Malaysia nói riêng, qua đó giúp Ấn Độ và Malaysia có thêm động lực để phát triển, hội nhập kinh tế khu vực và toàn cầu trong bối cảnh quốc tế hiện nay. Trên cơ sở đó, Ấn Độ và Malaysia đã ký Hiệp định kinh tế hợp tác toàn diện song phương (CECA) năm 2011, tạo cơ sở nền tảng để khai thác và mở rộng hợp tác thương mại song phương giữa hai nước. Bài viết dưới đây đi sâu phân tích thực trạng quan hệ kinh tế giữa Ấn Độ và Malaysia giai đoạn này, đặc biệt là việc thúc đẩy thương mại hai chiều và mở rộng hợp tác đầu tư song phương.</span></p> 2026-06-03T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 https://sjsh.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/733 Phong trào đấu tranh đòi quyền bầu cử của phụ nữ Mỹ (1865 - 1920) 2026-06-03T14:08:52+07:00 Nguyễn Thị Bích nguyenthibich@hpu2.edu.vn <p>Bài viết phân tích phong trào đấu tranh đòi quyền bầu cử của phụ nữ Mỹ từ sau Nội chiến (1865) đến khi Tu chính án 19 được thông qua vào năm 1920. Bằng phương pháp lô-gic và phương pháp lịch sử, tác giả làm rõ bối cảnh xã hội, vai trò và địa vị của phụ nữ Mỹ trong thế kỷ XIX, quá trình vận động và những kết quả, đặc điểm của phong trào. Bài viết nhấn mạnh đây là một quá trình đấu tranh lâu dài, đầy thách thức, để phụ nữ Mỹ có thể giành được một trong những quyền công dân cơ bản nhất - quyền bầu cử, đồng thời mở ra bước ngoặt lớn cho phong trào phụ nữ toàn cầu trong thế kỷ XX.</p> 2026-06-03T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 https://sjsh.hpu2.edu.vn/index.php/journal/article/view/734 Hợp tác phát triển mạng lưới đường sắt ở tiểu vùng sông Mekong mở rộng (1992-2025) 2026-06-03T14:11:29+07:00 Nguyễn Thị Tuyết Nhung nguyenthituyetnhung@hpu2.edu.vn Vũ Quỳnh Ngọc nguyenthituyetnhung@hpu2.edu.vn <p class="tukhoa"><span lang="PT-BR">Bài viết giới thiệu hợp tác phát triển mạng lưới đường sắt ở Tiểu vùng sông Mekong mở rộng từ năm 1992 đến năm 2025. Trước năm 1992, tình hình giao thông vận tải của các quốc gia Tiểu vùng, đặc biệt là mạng lưới đường sắt còn nhiều hạn chế, kém phát triển, thiếu tính kết nối và liên kết vùng. Từ sau năm 1992, các chương trình hợp tác phát triển giao thông và mạng lưới đường sắt được đẩy mạnh. Với sự hỗ trợ của Ngân hàng thế giới và nguồn tài chính từ các nước lớn, mạng lưới đường sắt của các nước Tiểu vùng sông Mekong mở rộng đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng tạo ra sự kết nối giao thương và phát triển kinh tế giữa các nước trong Tiểu vùng. Bên cạnh đó, việc đầu tư phát triển mạng lưới đường sắt cũng đặt ra nhiều thách thức và khó khăn cho các nước Tiểu vùng khi triển khai thực hiện.</span></p> 2026-06-03T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026